Skip to main content
Quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025
Chế độ ban đêm In trang Xuất PDF Đọc nội dung
-A A +A

MỘT SỐ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Sau hơn 02 năm thi hành Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (sau đây viết tắt là NĐ 100) cho thấy về mức xử phạt đối với một số hành vi vi phạm còn thấp, chưa đủ tính răn đe đối với người vi phạm. Ngày 28/12/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị định 123/2021/NQ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải; giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân dụng (sau đây gọi tắt là NĐ 123), có hiệu lực từ ngày 01/01/2022. Việc sửa đổi, bổ sung đồng thời tạo sự đồng bộ, thống nhất với Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020 sửa đổi.

Một số điểm mới đáng chú ý trong lần sửa đổi, bổ sung này như sau:

  • Bổ sung quy định theo Điểm b Khoản 4 Điều 2 NĐ123, người điều khiển xe có các hành vi sau đây sẽ bị phạt tiền từ 400.000 đến 600.000 đồng:

+ Không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi điều khiển xe tham gia giao thông trên đường bộ.

+ Chở người ngồi trên xe không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 06 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;

So với quy định tại NĐ 100 chỉ quy định hành vi không đội mũ bảo hiểm khi đi mô tô, xe gắn máy trên đường bị phạt tiền từ 200.000 đến 300.000 đồng.

  • Tăng mức xử phạt đối với hành vi s dng bng lái xe ô tô quá hn bị pht từ 5.000.000 - 12.000.000 đồng, căn cứ để xác định mức phạt từ 03 tháng (Khoản 11 Điều 2 NĐ 123). Quy định tại NĐ 100, mức phạt đối với việc sử dụng Giấy phép lái xe ô tô hết hạn sử dụng bị phạt từ 400.000 – 6.000.000 đồng, căn cứ để xác định mức phạt từ 06 tháng.
  •  Tăng mức phạt với hành vi điều khiển xe không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa (Khoản 11 Điều 2 NĐ 123):

+ Phạt tiền từ 1.000.000 - 2.000.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xi lanh dưới 175 cm3 và các loại xe tương tự xe mô tô. Quy định tại NĐ 100, phạt tiền từ 800.000 - 1.200.000 đồng.

+ Phạt tiền từ 4.000.000 - 5.000.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xi lanh từ 175 cm3 trở lên, xe mô tô ba bánh. Quy định tại NĐ 100, phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng.

+ Phạt tiền từ 10.000.000 - 12.000.000 đồng đối với người điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô. Quy định tại NĐ 100, phạt tiền từ 4.000.000 - 6.000.000 đồng.

  • Tăng mc pht đối với hành vi che bin số, gắn không đúng biển số đối với xe ô tô, xe gắn máy lần lượt là 4.000.000 – 6.000.000 đồng, 300.000 – 400.000 đồng. So với NĐ 100 chỉ phạt từ 800.000 - 1.000.000 đồng đối với hành vi che biển số xe.
  • Tăng mức xe ô tô nhn, tr khách, hàng hóa trên đường cao tc từ 10.000.000 - 12.000.000 đồng. NĐ 100 chỉ xử phạt tiền từ 5.000.000 - 7.000.000 đồng đối với hành vi tương tự.
  • Tăng mc pht với mọi trường hợp vi phạm quy định về vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng (Khoản 14 Điều 2 NĐ 123), mức xử phạt người điều khiển xe ô tô có hành vi vi phạm về vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng phạt tiền từ 2.000.000 - 3.000.000 đồng. NĐ 100 quy định mức phạt chỉ từ 1.000.000 - 2.000.000 đồng.

- Bổ sung mức phạt tiền từ 8.000.000 - 10.000.000 đồng đối với hành vi chở hàng siêu trường, siêu trọng có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng nhưng kích thước bao ngoài của xe (sau khi đã xếp hàng lên xe) vượt quá quy định trong Giấy phép lưu hành. (NĐ 100 chưa có quy định này)

- Tăng mức phạt tiền từ 13.000.000 - 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm: Chở hàng siêu trường, siêu trọng không có Giấy phép lưu hành hoặc có Giấy phép lưu hành nhưng đã hết giá trị sử dụng hoặc sử dụng Giấy phép lưu hành không do cơ quan có thẩm quyền cấp; Chở hàng siêu trường, siêu trọng có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng nhưng tổng trọng lượng, kích thước bao ngoài của xe (sau khi đã xếp hàng lên xe) vượt quá quy định trong Giấy phép lưu hành; Chở hàng siêu trường, siêu trọng có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng nhưng đi không đúng tuyến đường quy định trong Giấy phép lưu hành; Chở hàng siêu trường, siêu trọng có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng nhưng chở không đúng loại hàng quy định trong Giấy phép lưu hành. Quy định tại NĐ 100 chỉ phạt tiền từ 5.000.000 - 7.000.000 đồng đối với các hành vi tương tự.

  • NĐ 123 rút từ 5 mức vi phạm đối với xe chở quá trọng tải xuống còn 3 mức, tuy nhiên mức phạt nặng hơn từ 4.000.000 – 50.000.000 đồng (quy định tại NĐ 100 mức phạt chỉ từ 1.000.000-16.000.000 đồng)

- Tăng mức phạt với hành vi bán, sản xuất biển số xe trái phép:

+  Hành vi bán biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ không phải là biển số do cơ quan nhà nước có thẩm quyền sản xuất hoặc không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đối với cá nhân từ 10.000.000 - 12.000.000 đồng (NĐ 100 phạt từ 1.000.000 - 2.000.000 đồng); tổ chức: từ 20.000.000 - 24.000.000 đồng (NĐ 100 phạt từ 2.000.000 - 4.000.000 đồng).

+ Hành vi sản xuất biển số trái phép hoặc sản xuất, lắp ráp trái phép phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đối với cá nhân từ 30.000.000 - 35.000.000 đồng (NĐ 100 phạt từ 3.000.000 - 5.000.000 đồng), tổ chức từ 60.000.000 - 70.000.000 đồng (NĐ 100 phạt từ 6.000.000 - 10.000.000 đồng.)

- Tăng mức phạt đối với hành vi đua xe trái phép từ 10.000.000 – 15.000.000 đồng đối với người đua xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện trái phép và 20.000.000 - 25.000.000 đồng với người đua ô tô (Khoản 19 Điều 2 NĐ 123) so với mức tại NĐ 100 là từ 7.000.000 – 8.000.000 đồng đối với người đua xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện và 8.000.000 – 10.000.000 đồng đối với người đua ô tô.

- Thay đổi quy định xử phạt xe chở khách quá số người quy định. Theo đó giữ nguyên mức phạt tiền từ 400.000 - 600.000 đồng/người vượt quá quy định được phép chở của phương tiện nhưng thay đổi tổng mức phạt tiền tối đa không vượt quá 75.000.000 đồng so với tổng mức không vượt quá 40.000.000 đồng của NĐ 100.

Việc ban hành Nghị định 123/2021/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung những quy định cụ thể, đầy đủ và phù hợp hơn với thực tiễn hiện nay. Đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với những hành vi vi phạm; đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, phát triển kinh tế - xã hội.

 

Hoàng Thúy

Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng